Quy định về quyền bình đẳng vợ chồng trong quan hệ nhân thân

Luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh một nhóm các quan hệ xã hội là quan hệ về nhân thân và tài sản giữa các gia đình, bao gồm cả quan hệ vợ chồng. Quan hệ nhân thân có đặc điểm là quyền và nghĩa vụ gắn liền với nhân thân mỗi chủ thể, không thể chuyển dịch cho người khác. Căn cứ phát sinh quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng là sự kiện kết hôn làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng. Vậy quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình được quy định như thế nào? Quy định về quyền bình đẳng vợ chồng trong quan hệ nhân thân như thế nào? Mời các bạn độc giả cùng tìm hiểu qua bài viết của Luật sư Hải Phòng để hiểu và nắm rõ được những quy định về vấn đề này nhé. Hi vọng bài viết sẽ đem lại nhiều thông tin hữu ích cho quý bạn đọc.

Căn cứ pháp lý

  • Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
  • Bộ luật dân sự năm 2015

Quy định về quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình

Theo quy định tại Điều 39 Bộ luật dân sự 2015:

Điều 39. Quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình

1. Cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn, quyền bình đẳng của vợ chồng, quyền xác định cha, mẹ, con, quyền được nhận làm con nuôi, quyền nuôi con nuôi và các quyền nhân thân khác trong quan hệ hôn nhân, quan hệ cha mẹ và con và quan hệ giữa các thành viên gia đình.

Con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha, mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với cha, mẹ của mình.

2. Cá nhân thực hiện quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình theo quy định của Bộ luật này, Luật hôn nhân và gia đình và luật khác có liên quan.

Dựa vào Điều luật 39 của Bộ luật dân sự năm 2015 đã quy định về việc cá nhân có nhiều quyền nhân thân khác nhau trong hôn nhân và trong đời sống gia đình của mình và được pháp luật chấp thuận và ghi nhân. Trong đó thì đối với quan hệ hôn nhân, cá nhân có quyền kết hôn và quyền ly hôn theo như luật định khi cá nhân đáp ứng đủ điều kiện kết hôn thì sẽ được nhà nước chấp thuận cho 2 cá nhân xác lập quan hệ vợ chồng, còn khi 2 cá nhân này không còn có quan hệ tình cảm bị rạn nứt và không thể chung sống hòa thuận thì nhà nước cũng sẽ chấp thuận cho 2 cá nhân này thực hiện quyền ly hôn của mình. Trong đời sống gia đình, cá nhân có quyền bình đẳng của vợ chồng giữa các quan hệ về tài sản, không chỉ có vậy mà các bên còn có quyền và nghĩa vụ bình đảng như nhau; quyền xác định cha, mẹ, con; quyền nuôi con nuôi…

Quy định về quyền bình đẳng trong quan hệ tài sản giữa vợ chồng

Tại Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng  như sau:

+ Vợ chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. , không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập. Như vậy về nguyên tắc thì vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ bình đẳng với nhau trong việc xây dựng, phát triển và duy trì khối tài sản , đồng thời họ cũng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất

Có thể bạn quan tâm  Dịch vụ tư vấn thủ tục gia hạn thời hạn sử dụng đất tại Hải Phòng

+ Quyền bình đẳng của vợ chồng đối với khối tài sản chung thể hiện trong việc xác lập. thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự có liên quan đến tài sản chung được đưa vào kinh doanh. khi muốn đưa tài sản chung của vợ chồng vào việc kinh doanh thì vợ chồng phải thỏa thuận với nhau, thỏa thuận này phải được lập thành văn bản.

+ Đối với những trường hợp vợ hoặc chồng xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì được coi là có sự đồng ý của bên kia, trừ trường hợp mua bán bất động sản; Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.

Vợ và chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc quản lý và sử dụng tài sản chung. Vợ, chồng sử dụng tài sản chung của vợ chồng được đương nhiên coi là có sự thỏa thuận của cả hai vợ chồng.

Trong trường hợp vợ, chồng sống xa nhau vì lý do chính đáng không ảnh hưởng đến các quyền và nghĩa vụ của họ đối với tài sản chung hợp nhất của vợ chồng.

Quy định về quyền bình đẳng vợ chồng trong quan hệ nhân thân

Nội dung về quyền nhân thân giữa vợ và chồng chính là những lợi ích tinh thần, tình cảm, không mang nội dung kinh tế  và cũng không phụ thuộc vào yếu tố tài sản. Nghĩa vụ và quyền nhân thân bao gồm cả tình yêu, sự hòa thuận, sự tôn trọng lẫn nhau, việc xử sự trong gia đình, quan hệ đối với cha mẹ, các con và những thành viên trong gia đình. Nghĩa vụ và quyền về nhân thân giữa vợ và chồng theo luật định được quy định như sau:

Nghĩa vụ và quyền thể hiện mối quan hệ tình cảm giữa vợ và chồng

Điều 19 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định như sau:

– Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

Mục đích của việc kết hôn là xây dựng một gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững. Để hôn nhân đạt được mục đích đó thì điều cơ bản nhất là hai người trong quan hệ hôn nhân phải yêu thương nhau, chung thủy với nhau, quý trọng, chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau nhau cùng tiến bộ. Tình yêu và sự chung thủy với chính là hai yếu tố giúp cho vợ chồng chung sống hạnh phúc

– Vợ chồng phải quý trọng lẫn nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ hạnh phúc, bền vững. Sự quý trọng chăm sóc, giúp đỡ nhau giữa vợ và chồng thể hiện ở hành vi, cách xử sự và thái độ của họ đối nhau.

Nghĩa vụ và quyền thể hiện quyền bình đẳng, tự do, dân chủ của vợ chồng

– Vợ và chồng có quyền bình đẳng về mọi mặt trong gia đình:

+ Điều 17 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình…” Trên cơ sở giữa nam và nữ, Luật hôn nhân và gia đình khẳng định quyền bình đẳng giữa vợ với chồng trong gia đình. Quyền bình đẳng này được thể hiện trong việc vợ và chồng cùng nhau giải quyết, cùng nhau bàn bạc các vấn đề liên quan đến nhân thân và về tài sản của bản thân vợ chồng, của các thành viên trong gia đình, liên quan đến đời sống chung của gia đình

+ Quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trong gia đình được thể hiện rõ nét ở nghĩa vụ và quyền của họ trong việc nuôi dạy con cái. Vợ và chồng đều bình đẳng với nhau trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình lành mạnh. Cha mẹ phải quan tâm chăm sóc, chăm lo cho sự phát triển của con về thể chất, trí tuệ và đạo đức để con trở thành người con hiếu thảo của gia đình và là công dân có ích cho xã hội

Có thể bạn quan tâm  Mẫu quyết định cưỡng chế thu hồi đất năm 2023

+ Vợ và chồng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật khi họ không thực hiện tốt nghĩa vụ của mình trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con cái

+ Quyền bình đẳng giữa vợ và chồng được thể hiện trong việc đại diện cho nhau trước pháp luật. Điều này được quy định dựa trên cơ sở của bộ luật dân sự về đại diện, Luật hôn nhân và gia đình đã quy định vợ chồng có thể đại diện cho nhau theo ủy quyền hoặc theo pháp luật. Vợ chồng có thể ủy quyền cho nhau trong xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch (Điều 24 Luật hôn nhân và gia đình 2014). Quy định này đã tạo điều kiện thuận lợi trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể trực tiếp tham gia giao dịch khi giao dịch đó đòi hỏi phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng. Việc ủy quyền phải được lập bằng văn bản và có chữ ký của người ủy quyền và người được ủy quyền.

+ Vợ chồng cũng có thể đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện để làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật của người đó (Khoản 3 Điều 24 Luật hôn nhân và gia đình 2014)

+ Quyền bình đẳng của vợ chồng còn được thể hiện trong việc yêu cầu ly hôn. Vợ hoặc chồng đều có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết cho họ được ly hôn nhằm chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật.

– Vợ và chồng có quyền lựa chọn nơi cư trú:

+ Tại Điều 20 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định, việc lựa chọn nơi cư trú của vợ chồng do vợ chồng thỏa thuận, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán, địa giới hành chính. Vợ chồng có thể lựa chọn nơi cư trú dựa vào các yếu tố như công việc, hoàn cảnh thực tế. Tuy nhiên nếu vợ chồng có nơi ở chung thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng con cái, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống. Việc lựa chọn nơi cư trú không làm ảnh hưởng đến việc vợ chồng thực hiện các nghĩa vụ đối với nhau, với con cái và việc chăm lo xây dựng gia đình.

– Vợ chồng có quyền, nghĩa vụ tạo điều kiện, giúp đỡ nhau chọn nghề nghiệp; học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. (Điều 23 Luật hôn nhân và gia đình 2014)

Với tư cách là công dân của nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sống và làm việc theo Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì vợ và chồng hoàn toàn có quyền được hưởng đầy đủ các quyền lựa chọn nghề nghiệp, quyền tham gia vào hoạt động kinh tế, chính trị văn hóa, xã hội Vợ và chồng nên bàn bạc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau trong việc lựa chọn nghề nghiệp, học tập hoặc tham gia các hoạt động khác theo nguyện vọng và khả năng của mỗi người và phù hợp với quy định của pháp luật.

– Tôn trọng tự do, tín ngưỡng, tôn giáo của vợ chồng.

Có thể bạn quan tâm  Hợp đồng hôn nhân có hợp pháp không theo pháp luật hiện hành?

+ Tại Điều 24 Hiến pháp 2013 khẳng định mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.

+ Tại Điều 22 Luật hôn nhân và gia đình quy định vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau.

Do đó, vợ và chồng phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhau. Những quy định này nhằm xóa bỏ hiện tượng xảy ra trong thực tế là nhiều người lấy danh nghĩa vợ, chồng đã cấm hoặc cản trở quyền tự do tín ngưỡng của bên kia, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến những quyền cơ bản của công dân đã được Hiến pháp thừa nhận mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến hạnh phúc gia đình. Trên thực tế không ít các trường hợp, vợ chồng mâu thuẫn dẫn đến ly hôn vì lý do bất đồng về tín ngưỡng, tôn giáo.

Quy định về quyền bình đẳng vợ chồng trong quan hệ nhân thân
Quy định về quyền bình đẳng vợ chồng trong quan hệ nhân thân

Thông tin liên hệ:

Luật sư Hải Phòng sẽ đại diện khách hàng để giải quyết các vụ việc có liên quan đến vấn đề “Quy định về quyền bình đẳng vợ chồng trong quan hệ nhân thân” hoặc các dịch vụ khác liên quan như là Ly hôn đơn phương. Với kinh nghiệm nhiều năm trong ngành và đội ngũ chuyên gia pháp lý dày dặn kinh nghiệm, chúng tôi sẽ hỗ trợ quý khách hàng tháo gỡ vướng mắc, không gặp bất kỳ trở ngại nào. Hãy liên lạc với số hotline 0833102102 để được trao đổi chi tiết, xúc tiến công việc diễn ra nhanh chóng, bảo mật, uy tín.

Mời bạn xem thêm:

Câu hỏi thường gặp

Pháp luật có ghi nhận quyền bình đẳng giữa vợ, chồng không?

Quyền bình đẳng giữa vợ, chồng: Điều 17 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, luật này và các luật khác có liên quan.

Quyền và nghĩa vụ về nhân thân của vợ, chồng được quy định như thế nào?

Quyền và nghĩa vụ về nhân thân của vợ, chồng được quy định như sau:
Vợ,chồng có quyền bình đẳng trong việc lựa chọn chỗ ở, nơi cư trú
Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau
Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau
Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ tạo điều kiện, giúp đỡ nhau chọn nghề nghiệp; học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.

Quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết?

Theo quy định hiện hành tại Bộ luật dân sự 2015 thi quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được quy định như sau:
– Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết.
– Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được quy định tại Điều 72 Bộ luật dân sự 2015.

5/5 - (1 bình chọn)

Liên hệ để được hỗ trợ tốt nhất

Bài viết liên quan

Trả lời