Quy định về đất thờ cúng hiện nay như thế nào?

Di chúc là một biểu hiện của ý chí cá nhân, trong đó người lập di chúc quyết định chuyển giao tài sản của mình cho những người khác sau khi người đó qua đời. Người có tài sản có thể sử dụng di chúc để phân chia tài sản theo ý muốn của mình, tặng quyền sở hữu cho người mà họ muốn, và quyết định di chúc không bị ảnh hưởng bởi những người xung quanh. Tuy nhiên, nếu có bằng chứng chứng minh rằng di chúc không phản ánh ý muốn thực sự của người để lại di sản, thì di chúc có thể bị coi là vô hiệu. Điều này nhằm đảm bảo tính công bằng và tuân thủ ý muốn thực sự của người lập di chúc. Hiện nay, có nhiều người mong muốn lập di chúc để để lại di sản nhằm phục vụ mục đích thờ cúng. Vậy chi tiết quy định về đất thờ cúng hiện nay như thế nào? Hãy cùng Luật sư tìm hiểu tại nội dung sau:

Căn cứ pháp lý

Quyền để lại di sản dùng vào việc thờ cúng

Hiện nay, có nhiều người mong muốn lập di chúc để để lại di sản nhằm phục vụ mục đích thờ cúng. Điều này thể hiện mong muốn của họ trong việc bảo vệ và duy trì các nơi thờ cúng, cũng như việc đảm bảo nguồn lực và tài sản cần thiết để tiếp tục thực hiện các hoạt động tôn giáo và thờ cúng.

Căn cứ quy định về thừa kế tại Bộ luật dân sự 2015 thì việc để lại di sản dùng vào việc thờ cúng chỉ được áp dụng trong trường hợp người để lại di sản có di chúc hợp pháp ghi nhận nội dung dành một phần tài sản trong khối di sản để thờ cúng.

Theo đó, theo quy định tại Điều 645 Bộ luật dân sự 2015 thì:

– Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng.

Có thể bạn quan tâm  Hồ sơ xin nhập học mầm non gồm những giấy tờ gì?

Trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử người quản lý di sản thờ cúng.

Trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật.

– Trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.

Như vậy, nếu di sản được ghi trong di chúc hợp pháp là được dùng vào việc thờ cúng, thì đây là di sản được dùng trong việc thờ cúng. Phần di sản thờ cúng này không được chia thừa kế; bên cạnh đó người được chỉ định theo di chúc chỉ được quyền quản lý di sản thờ cúng và phải thực hiện đúng theo di chúc và thỏa thuận của những người thừa kế, nếu không phải giao cho những người thừa kế khác quản lý.

Quy định về đất thờ cúng hiện nay như thế nào?

Quy định về đất thờ cúng hiện nay như thế nào?

Theo quy định pháp luật, người lập di chúc có quyền tự do quyết định việc phân chia tài sản theo ý muốn cá nhân của mình. Điều này có nghĩa là họ có quyền quyết định ai sẽ nhận được tài sản và trong tỷ lệ như thế nào. Việc một số người nhận được nhiều tài sản trong khi một số khác không nhận được tài sản không vi phạm quyền này. Chi tiết quy định về đất thờ cúng hiện nay như thế nào?

Theo Điều 612 Bộ luật dân sự 2015 (BLDS) quy định “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”

Thờ cúng là một nếp sống văn hoá lâu đời của nhân dân ta, thể hiện lòng tôn kính đổi với người đã chết, giáo dục người xung quanh kính trọng những người bậc trên đã chết và nhớ công ơn của họ. Vì vậy, Nhà nước tôn trọng và bảo hộ các truyền thống tốt đẹp đó, cho phép cá nhân dành một phần tài sản của mình để dùng vào việc thờ cúng. Phần tài sản này không coi là di sản thừa kế.

Có thể bạn quan tâm  Năm 2023 khi thực hiện chuyển tên sổ đỏ hết bao nhiêu tiền?

Di sản dùng vào việc thờ cúng được để lại theo ý nguyện của người lập di chúc, di sản này không chia mà được giao cho một người quản lí. Di sản này có thể là một tài sản cụ thể (cây lâu năm, nhà ở…). Nếu là tài sản hoặc cây lâu năm, người quản lí có quyền thu hoa lợi, lợi tức và dùng nó để thực hiện việc thờ cúng. Người quản lí không được sử dụng vào mục đích của riêng mình. Không có quyền định đoạt di sản này. Trường hợp người đang quản lí di sản dùng vào việc thờ cúng mà không có điều kiện để tiếp tục quản lí di sản đó, những người thừa kế sẽ thoả thuận giao cho người khác quản lí.

Di sản dùng vào việc thờ cúng là phần di sản mà theo di nguyện của người chết là dùng tài sản đó để phục vụ cho việc thờ cúng.

Nhà đất để thờ cúng có bán được không?

Căn cứ quy định nêu trên thì phần di sản thờ cúng này không được chia thừa kế và chỉ có người thừa kế đại diện quản lý. Vì thế, nhà để thờ cúng không thuộc quyền sở hữu của những người thừa kế, thậm chí là người quản lý. Do đó, những người thừa kế và người quản lý không có quyền bán di sản thờ cúng.

Tuy nhiên, theo quy định tại Khoản 2 Điều 645 Bộ luật dân sự 2015 thì trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.

Theo đó, nếu toàn bộ di sản của người để lại di sản vẫn không đủ để thực hiện nghĩa vụ tài sản phải thanh toán, thì người để lại di sản không có quyền lập di chúc để lại di sản thờ cúng, phần di sản được quy định là di sản thờ cúng theo di chúc của người chết sẽ được dùng để thực hiện nghĩa vụ tài sản của người đó.

Có thể bạn quan tâm  Cách đăng ký hộ kinh doanh cá thể như thế nào?

Thông tin liên hệ:

Luật sư Hải Phòng sẽ đại diện khách hàng để giải quyết các vụ việc có liên quan đến vấn đề “Quy định về đất thờ cúng hiện nay như thế nào?” hoặc các dịch vụ khác liên quan như là trích lục hồ sơ đất. Với kinh nghiệm nhiều năm trong ngành và đội ngũ chuyên gia pháp lý dày dặn kinh nghiệm, chúng tôi sẽ hỗ trợ quý khách hàng tháo gỡ vướng mắc, không gặp bất kỳ trở ngại nào. Hãy liên lạc với số hotline 0833102102 để được trao đổi chi tiết, xúc tiến công việc diễn ra nhanh chóng, bảo mật, uy tín.

Mời bạn xem thêm bài viết:

Câu hỏi thường gặp

Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về di sản thờ cúng?

Theo khoản 5 Điều 26 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015, tranh chấp liên quan đến thừa kế tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do đó, khi có tranh chấp về di sản được sử dụng cho mục đích thờ cúng, Tòa án tự nhiên có thẩm quyền để giải quyết theo quy định của pháp luật hiện hành. Di sản thờ cúng, bất kể là sự việc phát sinh từ thừa kế, vẫn thuộc vào các vấn đề liên quan đến thừa kế và việc giải quyết tranh chấp này nằm trong phạm vi quyền thẩm quyền của Tòa án.

Có được chia thừa kế di sản dùng vào việc thờ cúng?

Khoản 1 Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015 đã có quy định rõ: Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế.

Trường hợp nào không được dành một phần di sản để thờ cúng hiện nay?

Theo quy định tại khoản 2 Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.

5/5 - (1 bình chọn)

Bài viết liên quan

Có thể bạn quan tâm
Close